|
Karate khởi nguồn từ vùng Okinawa (nay thuộc Nhật Bản), là đảo lớn nhất của quần đảo Ryūkyū. Lịch sử sâu xa của Karate theo tương truyền là từ thế kỷ thứ 7, khi các nhà sư Phật giáo và Lão giáo từ Trung Quốc đến Okinawa truyền đạo. Song song, họ cũng truyền thụ cho dân bản xứ bí quyết luyện tập sức khỏe (Ekkin-Kyo) do Đạt Ma tổ sư sáng tạo. Bí quyết này phát triển dần thành các đòn thế võ và được luyện tập nhiều thế kỷ ở Okinawa, gọi là Te (hoặc Ti - 手).
Đầu thế kỷ 14, mối bang giao giữa nhà Minh - Trung Quốc và 3 vương quốc cổ ở Okinwa (Chūzan, Hokuzan, and Nanzan) được thiết lập, võ thuật Trung Hoa (Kungfu, hay Kenpo) du nhập vào và được truyền bá tại đây thông qua các Sứ giả ngoại giao và những đoàn di dân người Hoa, đặc biệt từ Phúc Kiến, đến đây lập nghiệp. Dân Okinawa kết hợp tinh hoa kỹ thuật giữa Kenpo Trung Hoa và môn võ bản xứ Te hình thành nên To-de (hay Tō-te - 唐手), tức Đường thủ (có nghĩa: môn võ thuật có gốc đời Đường – Trung Quốc).
Năm 1429, Shō Hashi (1371 – 1439) thâu tóm 3 vương quốc cổ của Okinawa, lập nên vương quốc Ryūkyū. Vị vua kế nhiệm là Shō Shin lên nối ngôi năm 1477 và bắt đầu ra sắc lệnh cấm võ khí và võ thuật. Sự cấm đoán võ thuật và sử dụng võ khí thậm chí còn trở nên hà khắc, nghiêm ngặt hơn sau khi Ryūkyū bị xâm chiếm bởi thị tộc Shimazu vào năm 1609. Tuy vậy, lệnh cấm lại trở thành động lực cho việc truyền dạy và phát triển To-de trong bí mật của dân địa phương. Bên cạnh đó, nó cũng vô hình chung góp phần thúc đẩy sự phát triển đa dạng về chủng loại và kỹ thuật của kobudō – võ khí được sáng tạo dựa trên các công cụ thô sơ của gia đình và nghề nông.
 |
| Kỹ Thuật Tay Không Của Karate |
Đến thế kỷ 18, To-de được phát triển khá mạnh trong 3 vùng làng của Okinawa: Shuri, Naha và Tomari và dần hình thành 3 võ phái cổ với những đặc trưng riêng biệt:: Shuri-te, Naha-te, Tomari-te. Từ tiền thân này, các võ sư truyền nhân của 3 võ phái tiếp tục đúc kết, tống hợp các kỹ thuật, bài quyền và phát triển thành các hệ phái Karate hiện đại.
Thập niên 1920, một số võ sư từ Okinawa bắt đầu truyền bá môn võ này vào đại lục Nhật Bản. Số võ sư tiên phong danh tiếng này có thể kể đến: Kenwa Mabuni, Gichin Funakoshi, Chojun Miyagi, Hironori Ohtsuka, Motobu Choki, Kanbun Uechi … Cũng chính các vị võ sư này đặt nền móng cho những hệ phái Karate tiếng tăm ngày nay như: Shito-ryu, Shotokan-ryu, Goju-ryu, Wado-ryu, Motobu-ryu, Uechi-ryu …
Các võ sư karate ở Tokyo (thập niên 30) Kanken Toyama, Hironori Ohtsuka, Takeshi Shimoda, Gichin Funakoshi, Motobu Choki, Kenwa Mabuni, Genwa Nakasone, and Shinken Taira (trái sang phải)
|
Khi đó, To-de - 唐手 được phát âm theo tiếng Nhật là Kara-Te. Tuy nhiên, vì Karate - 唐手 theo nghĩa này là môn võ có gốc Trung Quốc nên các vị võ sư đứng đầu đã quyết định thay thế chữ Kara - 唐 bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa "KHÔNG", đó là 空. Bằng cách này, Karate tách hẳn sự liên hệ với Trung Hoa trong nghĩa từ và tạo điều kiện để Karate được Tổ chức võ thuật Nhật Bản bấy giờ là Butokukai chấp nhận.
Ngoài ra, cũng như các môn võ thuật khác của Nhật Bản vào những năm đầu thế kỷ 20, Karate được gắn thêm vĩ tố -dō – viết là 道 - (thay vì –jutsu) vào tên môn phái của mình. Ý nghĩa của -dō bắt nguồn từ mong muốn nâng việc tập luyện võ thuật lên thành một nhận thức hệ - một con đường của tự chủ tinh thần, chứ không đơn thuần là sự học hỏi các kỹ thuật chiến đấu thuần túy.
Karatedo (viết là 空手道) - KHÔNG THỦ ĐẠO – chính thức được sử dụng từ đó. Ngày nay, Karatedo có hơn 23 triệu võ sinh (gọi là karateka) tập luyện trên toàn thế giới.
|